Nhà tài trợ BKEPS Community
thiết kế website cửa hàng, doanh nghiệp, thương mại điện tử
Home Thông tin Công nghệ Giải quyết vấn đề tắc nghẽn lưới điện

Giải quyết vấn đề tắc nghẽn lưới điện

E-mail Print PDF
Image[bkeps.com]Khắp nơi trên thế giới, nhu cầu điện đang tăng lên liên tục, đều đặn, và hệ thống cung cấp điện đang chịu những thách thức nghiêm trọng. Ở các nước công nghiệp, cơ sở hạ tầng truyền tải điện không theo kịp đà tăng trưởng, và trở nên cũ nát quá mức dự kiến bình thường. Ở các nước đang phát triển và mới nổi lên, những cơ sở hạ tầng này chưa có hoặc còn hết sức hạn chế. Để giải quyết hai vấn đề trên phải xây dựng các mạch kết nối truyền tải thích hợp, có sử dụng các công nghệ tiên tiến.

Các mạch kết nối hoặc lưới điện cho phép sử dụng nguồn lực từ những nơi dư thừa công suất phục vụ cho các trung tâm phụ tải ở các khu vực không có nguồn điện. lưới điện bao gồm một số đường dây truyền tải nằm gần nhau, thường được gọi là tuyến hay mạch. lưới điện mang đến lợi ích và cũng có thể gây rắc rối, vì các mạch này có thể đi song song với nhau. Dòng điện trên đường dây nhiều mạch không phân chia đều nhau. Các đường dây này có điện trở cản trở dòng điện, được gọi là trở kháng. Trong một cấu hình lưới điện, các đường dây truyền tải có điện trở thấp hơn sẽ dẫn điện nhiều hơn các đường dây truyền tải có điện trở cao hơn, được gọi là sự tương tác.

Vấn đề trong lưới điện

 

Sự tương tác giữa các đường dây truyền tải có thể lớn đến mức phải giới hạn công suất của mạch. Các yếu tố giới hạn là quá tải nhiệt, sự không ổn định và tính năng điện áp kém. Đã vậy, các tuyến khác nhau trên lưới điện có thể gây ra hiện tượng tắc nghẽn hoặc dòng  điện quẩn.

Dòng điện quẩn là hiện tượng còn có tên gọi là dòng điện ngoài dự kiến. Dòng điện chạy qua tất cả các tuyến đi song song của lưới điện, nhưng không phân chia đều. Một giao dịch điện năng có thể yêu cầu đưa điện năng trực tiếp từ bang Arizona để sử dụng ở bang Utah, nhưng do hiện tượng dòng điện quẩn, nó đi tới bang California, bang Oregon và bang Idaho trước khi đến bang Utah. Đây là dòng không ngoài dự kiến, nó có thể buộc các công ty điện lực cắt giảm giao dịch điện năng để ngăn ngừa hệ thống quá tải; vì vậy công suất mạch điện trở thành vấn để khó giải quyết.

Công suất này do cơ quan truyền tải điện địa phương quy định. Thành phần của cơ quan này bao gồm những người sở hữu của các hệ thống được kết nối và họ đã đàm phán để đi tới thoả thuận về mỗi mạch điện. Đôi khi do các điều kiện vận hành mà công suất truyền thực tế của mạch điện thấp hơn giá trị danh định của mạch, bởi vì nó dựa vào công suất truyền tối đa có thể quản lý được một cách tin cậy trong mọi điều kiện.

Vượt qua khó khăn

Nếu không đầu tư thêm vào hệ thống truyền tải, tắc nghẽn lưới điện sẽ gia tăng, khiến cho nguồn cung cấp khả dụng gặp khó khăn hơn trong việc đáp ứng nhu cầu phụ tải và tạo điều kiện dễ dàng để phát huy tính đa dạng của công suất/nhu cầu. Trong một số tình huống, điều này có thể dẫn tới thiếu nguồn cung cấp và vô tình gián đoạn cung cấp điện cho khách hàng. Nhưng, cần phải có thời gian để xây dựng các đường dây điện. Ông Mark Lauby, quản lý đánh giá độ tin cậy của North American Electric Reliability Corp (NERC), cho biết phải mất 7 năm, thậm chí còn lâu hơn để thiết kế kỹ thuật, cấp phép và xây dựng đường dây truyền tải điển hình. Ông Lauby cho rằng thách thức thực sự là khả năng xác định địa điểm xây dựng mới các nhà máy điện và đường dây đúng nơi cần thiết chứ không phải là địa điểm có thể xin được giấy phép. Xây dựng đường truyền tải mới thực sự là quá tốn kém; lối thoát là sử dụng công nghệ hiện đại để cải thiện các công trình hiện có. Ông Lauby cho biết NERC trung lập về công nghệ, chừng nào các bước thực hiện nâng cao được tin cậy.

Viện Điện Edison (Edison Electric Institute - EEI) đã nêu trong tài liệu Điểm qua các dự án truyền tải, xuất bản năm 2007, rằng ngành điện Mỹ đã vượt qua thời điểm khó khăn. Tình trạng bỏ bễ đầu tư vào hệ thống truyền tải, vốn hết sức phổ biến trong thời kỳ từ đầu những năm 1970 đến năm 1999, nay đã kết thúc. Các công ty thành viên của EEI báo cáo đã chi trên 28 tỷ USD trong thời gian từ năm 2000 đến năm 2005 cho các dự án truyền tải và có kế hoạch tăng mức chi lên khoảng 31,5 tỷ USD cho giai đoạn 2006 - 2009. Các thành viên của EEI hiểu rằng, với một hệ thống truyền tải sử dụng công nghệ của thế kỷ 20 thì hầu như không thể đưa dòng điện đi theo một tuyến cụ thể. Đó là lý do tại sao chúng ta thấy có một số dự án không phải là đường dây truyền tải được ghi trong báo cáo, mặc dầu không làm tăng thêm tổng chiều dài đường dây, nhưng lại có thể giúp chúng ta cải thiện và sử dụng hiệu quả các công trình hiện có. Các công nghệ tiên tiến của lưới điện thông minh đem lại những lợi ích rõ rệt cho hệ thống truyền tải, cụ thể là tăng khả năng truyền tải, khả năng khống chế và củng cố toàn bộ hệ thống truyền tải.

Đơn giản hóa những vấn đề phức tạp

Công ty Edison Southern California (SCE; trụ sở tại Rosemead, bang California, Mỹ) có hơn 6.600 dặm (10.622 km) đường dây truyền tải và 17 hệ thống phục hồi (remedial action scheme - RAS) cục bộ nằm trong hành lang truyền tải điện. RAS là một qui trình tự động phát hiện các vấn đề của hệ thống và tự động thực hiện các bước nhằm giảm nhẹ mọi tác động bất lợi trên hệ thống truyền tải. Hệ thống này phát hiện và thực hiện nhanh hơn so với sự can thiệp của con người. Hệ thống cũng có khả năng thực hiện các thao tác mà để được phép phải mất nhiều thời gian chờ đợi phê chuẩn.

giai quyet van de tac nghen luoi dien 02.jpg

 

       Đường dây truyền tải điện 500 kV ở  Trung Quốc

 

SCE đề xuất đưa vấn đề này vào bước phát triển logic tiếp theo và thay thế các RAS cục bộ bằng một hệ thống tập trung, gọi là C-RAS. SCE sẽ sử dụng công nghệ tiên tiến sẵn có trên thị trường để đơn giản hoá toàn bộ qui trình. Hệ thống này sẽ sử dụng các bộ theo dõi pha (phasor monitoring unit) kết hợp với thiết bị bảo vệ và điều khiển tương thích với tiêu chuẩn IEC 61850, và truyền thông mạng Ethernet sự kiện trong hệ thống hướng theo loại đối tượng tốc độ cao (high -speed generic object - oriented system event Ethernet communication). SCE kỳ vọng có thể nâng công suất truyền tải, bổ sung hệ thống dễ dàng hơn và giảm các vấn đề về ổn định trong toàn hệ thống mà không cần bổ sung thêm công trình truyền tải.

Chính là các thiết bị FACTS

Công suất hữu công, tính bằng oát (W), là công suất làm động cơ quay, chiếu sáng và sưởi ấm/làm mát. Công suất phản kháng, đo bằng von ampe phản kháng (VAR), giúp tạo ra từ trường, điện trường cần thiết để dòng điện xoay chiều hoạt động. Ở chế độ cơ bản nhất, các thiết bị FACTS (flexible AC transmission system - hệ thống truyền tải xoay chiều linh hoạt), còn gọi là các bộ khống chế (controller), chính là các hệ thống điện tử công suất có chức năng khống chế công suất phản kháng. Sử dụng trong cấu hình phức tạp hơn, FACTS cho phép khống chế một hay nhiều thông số của hệ thống truyền tải xoay chiều, trong đó có khống chế động điện áp, dòng điện, trở kháng và góc pha.

Tiến sĩ Narain Hingorani, được nhiều người coi là cha đẻ của FACTS, nói rằng FACTS là một công nghệ mở ra nhiều khả năng. FACTS cho phép công ty điện lực khắc phục mọi ràng buộc hay hạn chế trên hệ thống điện gây ra bởi tính năng điện áp kém, các quá độ hay tính ổn định bằng cách khống chế liên tục các dòng công suất tác dụng và phản kháng. Ông Hingorani tin rằng các ứng dụng của công nghệ FACTS không diễn ra nhanh như mong đợi vì sự bấp bênh của thị trường do môi trường điều tiết gây ra.

Tụ điện phân dòng đóng cắt bằng cơ khí có thể sử dụng để cung cấp công suất phản kháng, cuộn kháng phân dòng đóng cắt bằng cơ khí có thể sử dụng để tiêu thụ công suất phản kháng, nhưng chúng không thể xử lý được đóng cắt động. Đây là lĩnh vực mà các thiết bị FACTS thể hiện vai trò mạnh mẽ. Kết hợp hai thiết bị phân dòng này và đóng cắt chúng bằng thiết bị điện tử công suất ta sẽ được một thiết bị FACTS, cũng được mang tên là thiết bị bù công suất phản kháng tĩnh (static VAR compensator - SVC), là nguồn thay đổi công suất phản kháng.

Ban truyền tải và phân phối điện của hãng Siemens (trụ sở tại Erlangen, Đức) gần đây đã đưa vào vận hành công trình FACTS lớn nhất ở Bắc Mỹ, được sử dụng để tăng cường đường dây truyền tải từ bang Arizona đến bang California. Đó là một SVC 525 kV, -110/+440 MVAR, đặt tại trạm Devers của SCE.

HVDC mở ra hướng giải quyết

Dòng điện cao áp một chiều (HVDC) cũng có thể sử dụng để chống lại dòng điện quẩn bằng cách hướng dòng công suất chính xác đến nơi mà người bán nói là giao dịch điện năng sẽ đi tới. Mạch kết nối Neptune của Siemens ở Mỹ là một ví dụ của ý tưởng này. Mạch kết nối này là một hệ thống HVDC đi ngầm dưới biển dưới đất, dài 65 dặm (105 km), được đưa vào hoạt động vào cuối tháng 6/2007.

 

giai quyet van de tac nghen luoi dien 03.jpg

 

Công trình Neptune tạo nên mạch liên kết truyền tải định hướng từ Sayreville (bang New Jersey) tới Long Island (bang New York). Theo báo cáo của Siemens thì hệ thống HVDC có điện áp danh định là 500 kV và tải được công suất 660 MW. Công trình này thuộc sở hữu và do Công ty TNHH Neptune Regional Transmission System (Fairfield, bang Connecticut) vận hành. Điện lực Long Island sẽ nhận điện năng từ PJM Interconnection, là một đơn vị sở hữu truyền tải khu vực.

Mạch kết nối Neptune đã được xây dựng bởi một côngxoocxiom đứng đầu là Siemens, là đơn vị quản lý dự án và cung cấp tất cả thiết bị HVDC. Cáp ngầm dưới biển và dưới đất là do hãng Prysmian (Milan, Italia) cung cấp và lắp đặt. Siemens tuyên bố dự án giúp công ty điện lực đáp ứng mức tăng trưởng phụ tải mà không cần phải có thêm nhà máy điện tại Long Island. Siemens cũng nói rằng mạch kết nối Neptune cung cấp điện năng mà không làm tăng dòng ngắn mạch của lưới điện, điều đó có nghĩa là không cần đến các biện pháp ứng phó, như vậy tiết kiệm được thời gian và tiền của. HVDC còn có lợi ích nữa, đó là các chức năng khống chế tác động cực kỳ nhanh, giúp ổn định các lưới điện được kết nối.

Công nghệ HVDC đã có bước tiến bộ phi thường. Điện áp danh định từ 600 kV, lần đầu tiên được áp dụng vào cuối những năm 1970, nay đã tăng lên tới 800 kV. Tiến sĩ Ram Adapa, cán bộ quản lý kỹ thuật về truyền tải điện và thị trường của Viện nghiên cứu Điện (EPRI; Palo Alto, bang California), tỏ ra rất phấn khởi về sự phát triển gần đây của công nghệ UHVDC (dòng điện một chiều điện áp cực cao) 800 kV. Ông nhấn mạnh rằng công nghệ này có thể sẽ truyền tải được công suất lớn hơn trên đường dây truyền tải dài hơn, giảm được tổn thất. Chắc là sẽ có thể tăng công suất truyền từ 4.000 MW lên khoảng 6.000 MW.

EPRI, ABB (Zurich, Thuỵ Sĩ), Siemens và AREVA (Paris, Pháp) đang phát triển HVDC ở cấp điện áp này (800 kV) từ nhiều năm nay. Tiến sĩ Adapa báo cáo rằng phòng thí nghiệm cao áp của EPRI tại Lenox (bang Massachusetts) đang thử nghiệm một đoạn đường dây truyền tải UHVDC. Năm 2006, ABB khánh thành công trình thử nghiệm UHVDC của công ty tại Ludvika, Thuỵ Điển. Theo báo cáo của công ty này, đây là sự gia tăng lớn đầu tiên trong lĩnh vực HVDC trong hơn 25 năm qua. Và mới đây, Siemens thông báo họ đã nhận được đơn đặt hàng của Công ty lưới điện Nam Trung Quốc (Quảng Châu) về xây hệ thống UHVDC 800 kV đầu tiên. Theo lịch biểu, hệ thống này sẽ bắt đầu hoạt động thương mại vào giữa năm 2010. Nhưng đây chỉ là một ví dụ nữa chứng tỏ công nghệ tiên tiến của lưới điện thông minh đang phát triển theo hàm mũ.

Các công trình UHVDC mới nhất

Hệ thống truyền tải UHVDC của Trung Quốc là một phần của dự án khổng lồ về xây dựng cơ sở hạ tầng truyền tải điện. Trung Quốc có ba lưới điện, đưa điện năng từ các vùng phía Tây giàu năng lượng tới các trung tâm phụ tải ở bờ biển phía Đông. Tuyến phía Nam dẫn điện năng từ các nhà máy thuỷ điện và nhiệt điện từ các tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây ở miền Tây Nam tới tỉnh Quảng Đông ở miền Đông Nam Trung Quốc. Tuyến trung tâm truyền tải thuỷ điện từ sông Trường Giang (trong đó công trình Tam Hiệp là nổi tiếng nhất) tới miền Đông Trung Quốc. Tuyến phía Bắc nối với các nhà máy thủy điện trên sông Hoàng Hà và các nhà máy nhiệt điện ở phía Bắc tới lưới điện Bắc Kinh - Thiên Tân - Đường Sơn.

Hệ thống UHVDC sẽ đặt ở tuyến phía Nam và nối liền các tỉnh Vân Nam và Quảng Đông. Đây sẽ là hệ thống truyền tải 800 kV một chiều đầu tiên trên thế giới. Hệ thống có thể đưa 5.000 MW điện đến các trung tâm phụ tải ở bờ biển Đông Nam.

Ta hãy hình dung vấn đề theo góc độ như sau: để truyền tải cùng công suất này, nếu sử dụng công nghệ 500 kV xoay chiều của những năm 1960 sẽ cần khoảng bốn đường dây truyền tải. Nếu sử dụng công nghệ truyền tải HVDC 500 kV của những năm 1970, sẽ cần đến hai hệ thống HVDC. Hệ thống mới sẽ là một bước tiến lớn, nhưng Trung Quốc có nhiều kinh nghiệm với HVDC. Hệ thống 800 kV của Siemens sẽ là hệ thống HVDC thứ năm ở Trung Quốc.

Năm 1989, ABB đã đưa vào hoạt động mạch kết nối đầu tiên Gezhouba - Thượng Hải (1.200 MW ở điện áp 500 kV). Năm 2001, Siemens đã đưa vào vận hành mạch kết nối HVDC thứ hai Tianshengqiao - Quảng Châu (1.800 MW ở điện áp ±500 kV). Năm 2004, mạch kết nối thứ ba Quý Châu - Quảng Đông I (3.000 MW ở điện áp 500 kV) được ABB đưa vào vận hành. ABB cũng đang xây dựng mạch kết nối thứ 4 Quý Châu - Quảng Đông, dự kiến sẽ được đóng điện vào cuối năm 2007. Trung Quốc chắc chắn là người đi đầu trong lắp đặt các mạch kết nối HVDC.

Hành động toàn cầu

UHVDC không chỉ được quan tâm nhiều ở Trung Quốc, mà còn ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế đang nổi lên trên thế giới. Ấn Độ và Châu Phi đang nghiên cứu các hệ thống truyền tải điện UHVDC. Ông Pat Naidoo, cán bộ quản lý các dự án đặc biệt của công ty Eskom Holdings Ltd, đi đầu trong nỗ lực điện khí hóa miền nam châu Phi. Theo ông Naidoo, chưa đầy 20% người dân Châu Phi được sử dụng điện. Eskom đang tham gia công trình khổng lồ UHVDC 800 kV mang tên Hệ thống tải điện phía Tây (WESCOR). Hệ thống này sẽ nối liền các nước ở Nam Phi, Cộng hòa Dân chủ Congo, Botswana, Angola và Namibia.

Sông Congo là nguồn năng lượng tái tạo khổng lồ của Châu Phi. Theo ông Naidoo, công trình thủy điện Inga do Société Nationale d'Électricité (công ty điện lực quốc doanh của Cộng hòa Nhân dân Côngô) bao gồm hai nhà máy điện (Inga 1 và Inga 2) với tổng công suất 1.770 MW. Inga 3 sẽ nâng công suất công trình này thêm 3.500 MW. Tiếp theo bước mở rộng này sẽ là Grand Inga. Theo ước tính, công suất phát điện có thể sẽ đạt tới khoảng 44 GW.

Ông Naidoo thừa nhận rằng các trung tâm phụ tải lớn gần nhất cũng nằm cách các nhà máy thủy điện này từ 1.864 dặm tới 3.728 dặm (3.000 km tới 6.000km). Dự án WESCOR đòi hỏi phải có tư duy đổi mới, và đó là lý do tại sao người ta lại chọn mức điện áp UHVDC này. UHVDC là lý tưởng để vượt qua các khoảng cách xa như vậy và lượng công suất cực lớn cần thiết cho việc điện khí hóa miền Nam châu Phi.

Chúng ta có thể xây dựng lại lưới điện

Các hệ thống truyền tải của Mỹ hiện đang bị phê phán. Khách hàng cần nhiều điện đến mức các thế hệ trước đây chưa từng tưởng tượng nổi. Nhu cầu này tiếp tục tăng trưởng nhanh hơn tốc độ có thể xây mới các nhà máy điện. Ngoài ra, năng lượng tái tạo đang phát triển mạnh mà hệ quả là có thêm nhiều nguồn điện nằm rải rác trên hệ thống truyền tải và đặt đúng tại những vị trí yếu nhất trên hệ thống. Với việc sử dụng hợp lý các công nghệ truyền thống và tiên tiến, chúng ta giờ đây chuyển sang nhiệm vụ nâng cao độ bền vững của lưới truyền tải điện.  



Theo: QUẢN LÝ NGÀNH ĐIỆN SỐ 1/2008

 

 




Related news items:
Newer news items:
Older news items:

Last Updated ( Friday, 07 March 2008 20:47 )  

Quảng cáo

Tin tức đấu thầu

Đăng kí nhận bản tin từ BKEPS

Nhập địa chỉ email của bạn

Best browsers for BKEPS